MẮC MẬT – TÁC DỤNG ÍT BIẾT CỦA GIỐNG CÂY VÙNG TÂY BẮC

Đăng bởiXanh Natura vào lúc



Mắc mật có tên khoa học là Clausena indica, tên thường gọi của chúng là móc mật, mác mật, còn gọi là hồng bì núi hay củ khỉ, dương tùng là loài thực vật có hoa thuộc họ Cửu lý hương. Cây mắc mật là loại cây gỗ nhỏ thường mọc trên núi đá vôi, chiều cao trung bình. Cây mắc mật thường mọc và phân bố ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, Thanh Hóa, Bắc Kạn, Hòa Bình. Lá kép lông chim mọc cách, dài 10-30cm, chóp lá nhọn, gốc lá lệch, mép lá gần như nguyên hay có khía răng nhỏ.

Từ "mắc mật" là tiếng Tày-Nùng và có thể dịch thành "quả ngọt, vì khi ăn vào thì có vị ngọt chua thanh thanh, cùng với hương thơm nhẹ.  Cây mắc mật thường ra hoa từ tháng 3 đến tháng 6, đậu quả vào tháng 7 đến tháng 9. Mặc dù quả có mùi thơm nhẹ, vị ngọt, nhưng cây lại ít bị sâu bệnh, vì vậy nếu bạn trồng bằng cây bằng hạt giống thì đến năm thứ 5 hay thứ 6 thì bắt đầu bói quả, nếu trồng từ cây ghép đến năm thứ 2-3 sẽ bắt đầu cho quả.

Công dụng

Lá cây mắc mật có hàm lượng hàm lượng protein, sắt, mangan, can xi khá cao, nên được dùng để cất tinh dầu, đồng thời người ta cũng thường dùng tinh dầu này để ướp món vịt quay hay lợn quay tại Cao Bằng, Lạng Sơn. Cả lá và rễ cây được sử dụng làm vị thuốc trong đông y. Ngoài ra quả và lá non của cây mắc mật cũng được dùng làm gia vị thức ăn hằng ngày.Quả mắc mật có thể ăn tươi hoặc dùng để nấu, kho trong một số món ăn, hoặc dùng để ngâm măng ớt. Hạt mắc mật phơi khô xay thành bột, dùng để làm gia vị.

Sử dụng lá, quả và tinh dầu từ cây mắc mật kích thích tiêu hóa rất tốt, bảo vệ gan, giảm đau nhức, vì vậy chúng hay được dùng làm thuốc trong Đông Y.


Bài viết cũ Bài viết mới