ĐINH LĂNG: VỊ THUỐC QUÝ TRONG ĐÔNG Y

Đăng bởiXanh Natura vào lúc


Cây đinh lăng được trồng làm cảnh hay làm thuốc trong y học cổ truyền, ngoài ra chúng còn được sử dụng làm rau sống. Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias fruticosa, đồng nghĩa: Panax fruticosum, Panax fruticosus là một loài cây nhỏ thuộc chi Đinh lăng (Polyscias) của Họ Cuồng cuồng (Araliaceae).. Chúng thường được gọi là cây gỏi cá, nam dương sâm. Cây đinh lăng  không chỉ sử dụng làm rau gia vị trong bữa cơm hằng ngày mà còn là một vị thuốc có tác dụng tốt với sức khỏe, có thể chữa được nhiều chứng bệnh trong đời sống.

Đặc điểm

Cây đinh lăng là loại cây nhỏ, cao trung bình từ 1-2 mét, không có lông cũng không có gai. . Hoa đinh lăng màu lục nhạt hoặc trắng xám. Lá của cây là loại lá  kép lông chim 2-3 lần, lá chét có răng cưa nhọn, mọc so le với nhau. Quả của cây hơi dẹt và có màu trắng bạc.

Công dụng

Viện y học Quân đội Việt Nam đã có những nghiên cứu và thử nghiệm trong nhiều năm về việc tìm ra công dụng của cây đinh lăng giống tương tự với những tính chất của nhân sâm (Panax ginseng) để làm thuốc bổ. Qua nghiên cứu và qua thực nghiệm cho thấy kết quả nghiên cứu đã xác nhận rễ cây đinh lăng có tác dụng làm tăng sức đề kháng của cơ thể, tăng khả năng lao động và làm việc bằng trí óc, lên cân và chống độc, chống được hiện tượng mệt mỏi, làm cho cơ thể ăn ngon, ngủ yên.

Người ta chủ yếu dùng lá và rễ của cây đinh lăng. Rễ đinh lăng có nhiều hoạt chất khi chúng từ 4-5 tuổi trở lên và được thu hái vào mùa đông, vì vậy sử dụng rễ với điều kiện này rất tốt cho sức khỏe. Rễ được đào lên thì mang rửa sạch rồi bỏ phần rễ sát với góc thân. Nếu rễ cây to thì dùng phần vỏ rễ còn rễ nhỏ thì dùng tất cả, nhưng bạn cũng nên rửa và cắt phần bị hư. Sau đó, thái nhỏ rồi mang phơi khô chỗ mát mẻ và tránh nắng, nhưng thoáng gió để vẫn giữ được mùi thơm và tinh chất tốt của rễ. Khi sử dụng, bạn để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5% rồi sao qua, tẩm thêm 5% mật ong, sao vàng thơm.

Tính chất của rễ đinh lăng: vừa ngọt vừa đắng, tính mát, mùi thơm nhẹ, không độc, vì vậy được dùng với các dạng như sau:

- Chữa bệnh ho, cảm hàn, hoặc bị đau khớp: Rễ Đinh lăng khô, sao khi đã thu hái "không sao tẩm" 150gr tán nhỏ, ngâm với 1 lít rượu có độ cồn từ 35-40 độ trong 7-10 ngày, trước khi dùng thì lắc đều. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 5-10ml, uống trước bữa ăn độ 30 phút. Uống rượu từ rễ cây đinh lăng giúp

- Tăng cường sinh lực, dẻo dai, tăng cường sức chịu đựng của cơ thể: Rễ Đinh lăng đã sao tẩm (10-15gr) hãm với nước sôi như hãm với nước chè, uống nhiều lần trong ngày,

- Chữa liệt dương, thiếu máu hay viêm gan: dùng thuốc bột và thuốc viên từ rễ Đinh lăng đã sao tẩm (150gr) tán nhỏ, rây mịn, ngày uống 0,5 đến 1gr. Trộn với mật ong, vo thành viên, mỗi viên độ 0,25-0,50gr. Ngày uống 2-4 viên chia làm 2 lần, trước bữa ăn độ 30 phút.

Ngoài ra, đinh lăng còn một số công dụng khác như:

- Đinh lăng còn được dùng để chữa ban sởi, ho ra máu, kiết lỵ. Phối hợp với sữa ong chúa làm thuốc bổ là rất tốt. Chú ý: Không được dùng rễ đinh lăng với liều cao, sẽ bị say, có hiện tượng mệt mỏi đối với cơ thể.

- Thân cành Đinh lăng sắc uống với liều từ 20-30 g, chữa được bệnh đau lưng, mỏi gối, tê thấp, dùng phối hợp với rễ cây xấu hổ (ngủ ngày), cúc tần, cam thảo dây.

-Lá non đinh lăng còn được dùng làm rau ăn sống, làm gỏi cá v.v... và cũng là vị thuốc bổ tốt cho cơ thể. Lá đinh lăng được dùng theo kinh nghiệm dân gian, chống bệnh co giật cho trẻ em, lấy lá non và lá già phơi khô đem lót vào gối hoặc trải giường cho trẻ nằm.

Trong y học cổ truyền Việt Nam, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã dùng rễ đinh lăng sao vàng, khử thổ, sắc cho phụ nữ uống sau khi sanh để chống đau dạ con và làm luông tiết sữa cho con bú.


Bài viết cũ Bài viết mới